Bệnh nhiễm độc benzen

Đăng lúc: Thứ ba - 29/05/2012 13:00

Benzen là một chất lỏng dễ bay hỏi. Benzen ít tan trong nước, nhưng lại rất dễ hoà tan trong phần lớn các dung môi hữu cơ, trong dầu khoáng cũng như trong dầu động vât, thực vật.

Bệnh nhiễm độc benzen

Bệnh nhiễm độc benzen

Đặc biệt, benzen là một dung môi hoà tan được nhiều chất như mỡ, cao su, hắc ín, nhựa đường nhựa than, sơn, vecni...Trong công nghlệp, benzen là nguyên liệu tổng hợp chất hữu cơ như nitro-benzen, anilin, clorobenzen, phenol, v.v... Benzen phần lớn được dùng làm dung môi hoà tan chất mỡ, cao su, vecni; tẩy mỡ ở xương, da sợí, vải, len, dạ, lau khô, tẩy mỡ các tấm kim loạI và dụng cụ có bám bẩn chất mỡ.

I - BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

1. Nhiễm độc cấp tính:

Diễn biến của nhiễm độc cấp tính thay đổi theo lượng benzen thở hít vào cơ thể. Với liều cao, hàm lượng benzen trên 65 mg/lít, nạn nhân chết sau vàI phút trong tình trạng hôn mê, có thể kèm theo co giật.

Với liều thấp hơn, hàm lượng khoảng 20-30 mg/l không khí, thường thấy có giai đoạn kích thích thần kinh, tiếp đến giai đoạn suy sụp cơ thể dẫn đến tình trạng trụy tim. Nói chung, sau 20-30 phút, nạn nhân mê man.

Hàm lượng benzen trên l0mg/l gây nhiễm độc bán cấp, sau vài giờ nạn nhân thấy khó chịu, nhức đầu, chóng mặt, nôn.

Thể nhiễm độc nhẹ giống như người say rượu. Niêm mạc màu đỏ tươi là một dấu hiệu cổ điển.

Trong nhiễm độc cấp tính, benzen ảnh hưởng chủ yếu đến não.

2. Nhiễm độc mãn tính:

2.1. Giai đoạn khởi phát:

- Rối loạn tiêu hóa: ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng, nôn, hơi thở có thể có mùi benzen.

- Rối loạn thần kinh: chóng mặt, nhức đầu, đễ cáu giận, chuột rút, cảm giác kiến bò, tê cóng...

- Rối loạn huyết .học: thiếu máu nhẹ, có khuynh hướng xuất huyết, phụ nữ dễ rong kinh, khó thở cố gắng do thiếu máu, thời gian máu chảy kéo dài, dấu hiệu dây thắt dương tính.

2.2. Thời kỳ toàn phát: ở thời kỳ này, bệnh được thể hiện qua hội chứng xuất huyết, thiếu máu, giảm bạch cầu.

- Xuất huyết: do tính giòn mao mạch, tiểu cầu giảm (dưới l00.000/mm3). Hay gặp xuất huyết niêm mạc (mũi, lợi, dạ dày, ruột, tử cung) hoặc dưới da. Hiếm gặp xuất huyết phủ tạng: gan, thận; lách, màng não và não. Thời gian máu chảy kéo đài.

- Thiếu máu: Số lượng hồng cầu giâm, còn dưới hai triệu. Thường là thiếu máu đẳng sắc, bất sản tủy (hoặc thiểu sản tủy), do sự phá hủy hồng cầu hay ức chế các chức phận tạo huyết của tủy xương. Giống như các chứng thiếu máu tái tạo khác, có thể gặp hồng cầu không đều, hồng cầu biến dạng, hồng cầu bắt nhiều màu.

- Bạch cầu giảm: Trường hợp nặng có thể giảm còn l000/mm3, đặc biệt bạch cầu đa nhân trung tính giảm nhiều. Bạch cầu ái toan hơi tăng hay tăng nhiều.

Bệnh nhiễm độc benzen là một bệnh nguy hiểm vì dù ngừng tiếp xúc, bệnh vẫn không loại trừ được do có lượng benzen tích lũy ở các tổ chức nhiều mỡ, nhất là ở tủy xương. Ngoài ra, nhiễm độc còn có thể xuất hiện muộn, tới 20 tháng sau, cũng do benzen tồn lưu lâu dài ở tủy xương.

Nếu điều trị khỏi, thời gian hồi phục kéo dài và bệnh cũng có thể tái phát. Ở phụ nữ có thai, dễ sẩy thai, đẻ non.

II - BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG

Giống như đối với các yếu tố độc hại khác trong công nghiệp, cơ bản hơn cả vẫn là phải chú ý đến các biện pháp dự phòng về kỹ thuật,

1 Biện phâp kỹ thuật:

1.1. Nguyên tắc chung: Trong các nhà máy sử dụng benzen làm nguyên liệu, các máy móc vận hành bảo đảm thật kín, hoạt động tốt. Ngoài ra, còn phải thiết kế hệ thống thông hút gió. Nếu nồng độ hơi benzen cao, phải có máy hút tại chỗ, tại bàn làm việc. Số người ìàm việc phải giảm ở múc tối thiểu.

1.2. Kiểm tra môi trường lao động: Tại các phân xưởng có benzen phải định kỳ kiểm tra nồng độ benzen trong không khí.

1.3. Quy định tỷ lệ benzen trong các dung môi:

Đây là biện pháp rất quan trọllg về kỹ thuật . Tốt nhất là loại hoàn toàn benzen ra khỏi các dung môi, nhưng do một số lý do kỹ thuật nên thực tể không thực hiện được trong nhiều trường hợp tuỳ theo từng nước tỷ lệ benzen trong các dung môi quy định khác nhau về tỷ lệ tinh theo khối lượng hoặc theo thể tích.

2. Biện pháp y tế: Tồ chức khám sức khoẻ đầy đủ cho toàn bộ công nhân tiếp xúc với các dung môi có benzen, các đồng đẳng như toluen, xylen, cumen hoặc cyclohexan chứa tới 3% benzen.

2. 1. Khám tuyển: Việc khám tuyển bao gồm: Khám lâm sàng toàn diện; Xét nghiệm máu, tìm số lượng hồng cầu, bạch cầu tiểu cầu huyết sắc tố, công thức bạch cầu, thời gian máu chảy, thời gian co cục máu đông, tính giòn mao mạch.

Tiêu chuẩn khám tuyển nói chung không tuyển dụng: Dưới 18 tuổi; Phụ nữ có mang hoặc đang cho con bú; Những người kém dinh dưỡng, ăn uống thiếu protit và vitamin hoặc suy gan do nghiện rượu hoặc do nguyên nhân khác; Những người đã và đang có bệnh về máu do benzen hoặc là các bệnh về máu khác, hay có những bất thường về máu.

2.2. Khám định kỳ:

Khám định kỳ như khám tuyển, nhưng kết quả dựa vào các chỉ số khác. Cứ 6 tháng, tổ chức khám một lần. Ngoài việc khám định kỳ, bệnh nhân nào nghi nhiễm độc phải được phát hiện. Mặt khác, khi nào có một trường hợp nhiễm độc, phải tổ chức khám toàn bộ công nhân tiếp xúc. Về lâm sàng, chú ý tình trạng toàn thân: cân nặng, ăn uấng, ngủ... Ngoài ra, cần phát hiện các biểu hiện xuất huyết.

3. Biện pháp cá nhân:

Nhất thiết công nhân tiếp xúc với benzen phải có quần áo bảo vệ thích hợp, phải giặt giũ luôn. Quần áo mặc thường phải để riêng. Sau khi làm việc, phảI tắm nước nóng với xà phòng.

Ở một số nơi, hệ thống hút chưa bảo đảm, cần phải sử dụng các loại mặt nạ. Loại mặt nạ có hộp lọc than hoạt có hiệu quả hạn chế, nhất là khi nồng độ benzen trong không khí lên đến l mg/l. Một số trường hợp có thể dùng mặt nạ cách biệt, chu trình hở với khí :n hoặc tốt hơn, dùng loại chu trình kín với oxy nén.

Người ta còn lắp đặt hệ thống dẫn không khí trong sạch ngoài trời thổi vào.

Ngoài ra, cần chú ý:

- Cấm rửa tay bằng benzen hoặc các dung môi khác có chứa benzen:

- Tránh vứt lung tung hoặc sử dụng các khăn lau thấm benzen.

- Cấm hút thuốc vì còn có nguy cơ cháy và nổ.

- Cấm ăn uống nơi làm việc.

- Chế độ ăn uống đầy đủ, tránh uống rưọu.

- Khi yêu cầu cần làm xét nghiệm máu và kiểm tra bệnh.

- Cần đi khám bệnh khi thấy mệt mỏi bất thường, ăn không tiêu, gày yếu, chảy máu.

Nguồn tài liệu tham khảo:

- Bệnh Nghề Nghiệp - tác giả PGS. Lê Trung

- Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp - tác giả PGS. TS ĐỖ HÀM

Tác giả bài viết: Nguyễn Tấn Nhật tổng hợp
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thăm dò ý kiến

Bạn có tìm thấy những thông tin hữu ích từ website?

Có, website rất hữu ích cho những người muốn tìm hiểu về an toàn!

Không

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 10
  • Hôm nay: 1262
  • Tháng hiện tại: 55286
  • Tổng lượt truy cập: 3805152