Khi nơi làm việc tồn tại các mối nguy liên quan đến hô hấp (khí độc, bụi, thiếu dưỡng khí…) thì cần áp dụng biện pháp giảm thiểu/ thay thế như thay thế bằng hoá chất ít độc hại hơn, cải tiến hệ thống thông gió…
Các biện pháp hành chính như quy trình làm việc, thay đổi thời gian làm việc... cũng cần được xem xét như là một giải pháp giảm thiểu mức tiếp xúc của người làm việc. Khi những biện pháp nói trên không đủ hiệu quả thì thiết bị bảo vệ hô hấp phải được sử dụng để bảo vệ người lao động. Tuy nhiên như chúng ta đã biết, mỗi thiết bị bảo hộ có đặc tính bảo vệ khác nhau tuỳ thuộc vào đặc tính chế tạo cũng như môi trường và cách thức sử dụng.
 
Dựa trên mối nguy tồn tại, người sử dụng lao động phải xác định loại thiết bị bảo vệ hô hấp cần được sử dụng, những đòi hỏi về kiến thức và yêu cầu đào tạo đối với loại thiết bị đó. Hay nói cách khác cần thiết lập chương trình bảo vệ hô hấp và đánh giá tính hiệu quả của nó.
 
Bên cạnh những yêu đối với người sử dụng lao động theo quy định pháp luật, người sử dụng lao động hay bộ phận an toàn phải hiểu biết cả về đặc tính cong việc và các chất độc hại tồn tại trước khi lựa chọn. Việc xem xét đặc tính công việc đóng vai trò rất quan trọng bởi vì một số hoạt động đặc thù có thể làm giảm thiểu/ mất hiệu quả của thiết bị bảo hộ.
 
Thiết bị bảo vệ hô hấp hoạt động theo 2 cơ chế. Cơ chế thứ nhất thường được sử dụng là sử dụng carbon hoạt tính hoặc lọc cơ học để loại bỏ chất độc hại. Cơ chế này được gọi là lọc khí (APR – air purifying respirator). Cơ chế thứ hai hoạt động theo nguyên tắc cấp khí sạch cho người lao động từ nguồn khác (SAR – supplied air respirators)
 
Đối với trường hợp người lao động có thể tiếp xúc với các loại khí độc không biết trước hoặc không biết hàm lượng tiếp xúc là bao nhiêu, cũng như môi trường thiếu oxy hay trong tình huống khẩn cấp không nên sử dụng APR mà phải sử dụng SAR (SCBA hoặc hệ thống cấp khí).
 
Cũng như đối với một số công việc cụ thể như bắn gỉ không được sử dụng APR, theo yêu cầu của OSHA, công việc này phải sử dụng SAR. SAR phải phù hợp việc vào và thoát hiểm khỏi môi trường thấp hơn nồng độ gây nguy hiểm ngay lập tức đến sức khoẻ (IDLH) với mức độ bảo vệ phù hợp cho đầu và cổ của người sử dụng.
Khi lựa chọn APR cần hiểu rõ về đặc tính sử dụng của sản phẩm. Nếu công việc đào hỏi bảo vệ khỏi hạt lơ lửng như tiếp xúc với hơi dầu… thì phải sử dụng phin lọc loại R-series hoặc P-series chứ không nên sử dụng N-series.
 
Đối với môi trường có chất ô nhiễm mà có thể sử dụng được APR, người sử dụng lao động phải biết nồng độ chất độc hại mà người lao động có thể tiếp xúc để xác định liệu APR đó có đủ bảo vệ hay không. APR có giới hạn bảo vệ nhất định. Nếu sử dụng APR cần kiểm tra độ kín, chỉ sử dụng thiết bị APR nếu nồng độ chất độc hại thấp hơn 10 lần giới hạn tiếp xúc PEL nhưng không được vượt quá giới hạn IDLH.
 
Có một số hoạt động và môi trường độc hại không cho phép sử dụng APR như môi trường tồn tại ethylene oxide, methylene chloride mà nồng độ cao hơn giới hạn cho phép tiếp xúc phải sử dụng SAR. Hay một số môi trường như methyl alcohol và carbon monoxide vượt giới hạn cho phép sẽ làm mất đi tính hiệu quả của màng lọc APR.
 
Để xác định giá trị tiếp xúc của chất độc hại cần tiến hành theo dõi giá trị tiếp xúc bằng thiết bị đo cố định hoặc di động. Đối với thiết bị đo khí hoặc hơi phải được hiệu chuẩn định kỳ phù hợp.
 
Tác giả bài viết: Nguyễn Tấn Nhật